04:21 ICT Thứ bảy, 29/11/2014

Chuyển tiền Bưu điện

Chủ nhật - 31/03/2013 13:31
Dịch vụ chuyển tiền Bưu điện là dịch vụ chuyển phát tiền từ người gửi đến người nhận thông qua mạng bưu cục rộng khắp trên cả nước và liên minh chuyển tiền với nhiều tổ chức Bưu chính, ngân hàng và các công ty chuyển tiền trên khắp thế giới.

I. Giới thiệu dịch vu:

1. Chuyển tiền trong nước
•    Chuyển tiền nhanh: là dịch vụ chuyển tiền trong đó phiếu chuyển tiền được chuyển bằng phương thức điện tử

•    Thư chuyển tiền: là dịch vụ chuyển tiền trong đó phiếu chuyển tiền được chuyển bằng đường thư kết hợp (hoặc bằng) phương thức điện tử, cho phép khách hàng chuyển tiền với giá cước thấp.

2. Chuyển tiền quốc tế: là dịch vụ chuyển tiền trong đó phiếu chuyển tiền được trao đổi giữa Bưu chính Việt Nam với Bưu chính các nước và các nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền quốc tế (Bưu chính các nước Pháp, Mỹ, Malaysia, Singapore, Bỉ, Trung Quốc, Séc, Slovakia, Latvia, Azecbaijan, Lào, Pháp, Hàn Quốc, Belarus, Nhật, Thụy Sỹ, Thái Lan, Philippin, Ba Lan; Ngân hàng BangKok Thái Lan; công ty chuyển tiền quốc tế Western Union)

Dịch vụ cộng thêm đa dạng:
+    Nhận tiền tại địa chỉ
+    Trả tiền tại địa chỉ
+    Báo trả
+    Trả tận tay

+    Lưu ký

Các tiêu chí hàng đầu phục vụ khách hàng:
+    Thủ tục gửi/ nhận tiền đơn giản, thuận tiện
+    Chuyển tiền nhanh chóng, chính xác, an toàn
+    Phạm vi cung cấp dịch vụ rộng khắp
+    Thời gian phục vụ linh hoạt

 

II. Đặc điểm dịch vụ:

Mức tiền gửi

Mức tiền gửi tối đa cho mỗi phiếu chuyển tiền do Bưu điện qui định và công bố tại các điểm cung cấp dịch vụ.

a.Mức tiền gửi:

Không giới hạn mức tiền gửi đối với tất cả các điểm cung cấp dịch vụ

b. Mức tiền trả:

- Tại các bưu cục cấp 1,cấp 2 trong cả nước và bưu cục cấp 3 thuộc Bưu điện thành phố Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh: không giới hạn mức tiền trả.

- Tại các bưu cục cấp 3 thuộc các Bưu điện tỉnh, thành phố khác: giới hạn mức tiền trả là 50.000.000 đồng (năm mưới triệu đồng).

- Tại các điểm BĐ-VHX: giới hạn mức tiền trả là 20.000.000 (hai mươi triệu đồng).

- Khách vãng lai: giới hạn mức tiền gửi và trả là 50.000.000 (năm mươi triệu đồng).

 

Thời hạn hiệu lực của phiếu chuyển tiền

Thời hạn hiệu lực của phiếu chuyển tiền là 12 tháng kể từ ngày phiếu chuyển tiền được phát hành. Hết thời hạn này, nếu Bưu điện không trả được tiền cho người nhận và cũng không hoàn lại được tiền cho người gửi thì phiếu chuyển tiền hết hiệu lực và số tiền gửi được coi là vô thừa nhận.
Thời hạn trả tiền của phiếu chuyển tiền

a. Thời hạn trả tiền của phiếu chuyển tiền là thời hạn lưu giữ phiếu chuyển tiền tại bưu cục trả tiền. Thời hạn trả tiền được qui định như sau:

- Đối với Thư chuyển tiền: 2 tháng kể từ ngày phát hành Thư chuyển tiền.

- Đối với Chuyển tiền nhanh: 15 ngày kể từ ngày phát hành Chuyển tiền nhanh.

b. Hết thời hạn trả tiền, nếu không trả được tiền cho người nhận, phiếu chuyển tiền được chuyển hoàn để trả lại tiền cho người gửi.
Chuyển hoàn phiếu chuyển tiền

a. Các phiếu chuyển tiền hết thời hạn trả tiền qui định tại Điều 8 mà người nhận không nhận tiền được chuyển hoàn về Bưu cục phát hành để hoàn tiền cho người gửi.

b. Các phiếu chuyển tiền mà người nhận từ chối nhận tiền, hoặc đã chuyển đi nơi khác không để lại địa chỉ, hoặc đã chết mà không có người xin được nhận thay được chuyển hoàn ngay, không chờ hết thời hạn trả tiền.

c. Các phiếu chuyển tiền chưa trả tiền cho người nhận mà người gửi yêu cầu hoàn lại tiền được chuyển hoàn về bưu cục phát hành.

Phiếu chuyển tiền vô thừa nhận

a. Các phiếu chuyển tiền hết thời hạn hiệu lực nếu không trả được tiền cho khách hàng thì được coi là vô thừa nhận.

b. Việc xử lý các phiếu chuyển tiền vô thừa nhận được thực hiện tập trung tại Tổng công ty. Thủ tục giải quyết như sau:

- Các Bưu điện tỉnh, thành phố tập hợp các phiếu chuyển tiền quá hạn chưa trả tiền vào báo cáo CT15, CT15.1, định kỳ gửi về Tổng công ty.

- Tổng công ty thành lập hội đồng xử lý phiếu chuyển tiền vô thừa nhận theo qui định để quyết định việc xử lý vô thừa nhận đối với phiếu chuyển tiền quá hạn chưa trả tiền.

c. Nếu có khiếu nại về các phiếu chuyển tiền vô thừa nhận, các Bưu điện tỉnh lập hồ sơ và gửi về Tổng công ty để giải quyết.

III. Dịch vụ cộng thêm:

Nhận tiền tại địa chỉ (NĐC) là dịch vụ Bưu điện nhận gửi tiền tại địa chỉ của người gửi tiền.

Trả tiền tại địa chỉ (TĐC) là dịch vụ Bưu điện trả tiền tại địa chỉ của người nhận tiền.

Báo trả (BT) là dịch vụ Bưu điện thông báo bằng thư, bằng điện thoại, tin nhắn… cho người gửi biết đã trả tiền cho người nhận.

Trả tận tay (TT) là dịch vụ Bưu điện phát giấy mời và trả tiền đích danh cho người được người gửi chỉ định nhận tiền.

Lưu ký (LK) là dịch vụ Bưu điện giữ lại phiếu chuyển tiền và giấy mời tại bưu cục trả tiền để người nhận chủ động đến nhận tiền.

Khách hàng có thể sử dụng một hoặc nhiều dịch vụ cộng thêm nêu trên nếu các dịch vụ đó không loại trừ nhau.

IV. Chỉ tiêu thời gian:

Chỉ tiêu thời gian: áp dụng cho dịch vụ Chuyển tiền nhanh:
+ Thời gian toàn trình của phiếu Chuyển tiền nhanh được quy định như sau:
- Ngân phiếu chấp nhận tại các bưu cục chuyển đến trả tại thành phố Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh không quá 12h (không kể thời gian ban đêm).
- Ngân phiếu chấp nhận tại các bưu cục chuyển đến trả tại trung tâm các tỉnh, thành phố khác trong toàn quốc chậm nhất không quá 24h (không kể thời gian ban đêm).
- Ngân phiếu chấp nhận tại các bưu cục chuyển đến trả tại các địa bàn còn lại chậm nhất không quá 48h (không kể thời gian ban đêm).

V. Phạm vi cung cấp dịch vụ:

Chuyển tiền trong nước

- Dịch vụ Chuyển tiền nhanh: Tại các điểm giao dịch trên toàn tỉnh
- Dịch vụ Thư chuyển tiền: Tại các điểm giao dịch trên toàn tỉnh

 Chuyển tiền quốc tế: Tại các điểm giao dịch trên toàn tỉnh

VI. Hướng dẫn sử dụng dịch vụ:

Trường hợp thông thường

Việc trả tiền đối với các phiếu chuyển tiền được thực hiện như sau:

Đề nghị khách hàng xuất trình giấy mời và giấy tờ qui định cho việc nhận tiền.

Kiểm tra điều kiện nhận tiền, tìm phiếu chuyển tiền liên quan.

 Lược ghi thông tin (loại, số, ngày cấp và cơ quan cấp) của giấy tờ tùy thân người nhận xuất trình lên CT1bis.

Trường hợp người nhận xuất trình Giấy chứng nhận, hoặc Giấy giới thiệu, hoặc Giấy ủy quyền thì các giấy tờ này được đính kèm với BC10 và lưu tại bưu cục.

 Ghi ngày, giờ trả tiền; Đề nghị người nhận ghi và ký tên trên phiếu chuyển tiền.

Giao tiền cho người nhận.

Vào sổ trả tiền CT5 mở riêng cho từng loại dịch vụ. Số thứ tự trên sổ CT5 được lấy theo tháng (Sổ trả tiền CT5 được lập theo mẫu ấn phẩm in sẵn đối với bưu cục không kết nối mạng và được hỗ trợ lập trên chương trình CT2003 đối với bưu cục có kết nối mạng).

 Hoàn chỉnh CT1bis:

-Ghi số thứ tự trả tiền. Số thứ tự trả tiền được lấy theo số thứ tự ở sổ CT5.

-Đóng dấu tên bưu cục.

-Đóng dấu ngày trả tiền.

- Ký tên.

 Nhập thông tin trả tiền vào hệ thống. Đối với bưu cục chưa kết nối mạng: Ghi ngày trả tiền vào dòng tương ứng trên CT3, chuyển phiếu chuyển tiền đã trả kèm CT6.1 về bưu cục có nối mạng để nhập thông tin trả vào hệ thống.

Lập bản kê chi tiết phiếu chuyển tiền đã trả tiền CT2.2 hoặc CT6.1 theo qui định.

 Giao phiếu chuyển tiền và giấy tờ liên quan cho KSV kiểm soát, sửa chữa theo yêu cầu của KSV (nếu có).

  Các trường hợp đặc biệt (nếu có)

Trong các trường hợp đặc biệt, khi trả tiền, ngoài việc thực hiện các thủ tục thông thường, Giao dịch viên phải tuân thủ những qui định sau:

VII. Các quy định về khiếu nại, bồi thường: Xem tại đây

Tác giả bài viết: Bưu điện tỉnh Điện Biên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: chuyển tiền
 

Liên kết website

Lịch năm 2012